Khu Di Tích Lịch Sử Đền Hùng - Miền đất tổ cội nguồn các dân tộc Việt Nam
Đây là khu di tích gắn liền với truyền thuyết 18 đời vua Hùng xây và là nơi thờ phụng các Vua đã có công dựng nhà nước Văn Lang đóng đô ở Phong Châu và giữ nước đến ngày nay. Đền Hùng được xem là 1 tín ngưỡng lâu đời xếp hạng vào Di tích lịch sử văn hóa Quốc gia đồng thời được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể vào năm 2012 một trong những đại diện của nhân loại.
Kiến trúc tôn nghiêm, cổ kính của Khu di tích lịch sử Đền Hùng
Quần thể khu di tích lịch sử Đền Hùng gồm 4 chùa , 1 đền, 1 lăng hài các hạng mục chính sau đây:
- Cổng đền: Được xây dựng vào năm Khải Định thứ 2 (1917). Cổng xây kiểu vòm cuốn cao 8,5m, hai tầng 8 mái, lợp giả ngói ống. Tầng dưới có một cửa vòm cuốn lớn, đầu cột trụ cổng tầng trên có cửa vòm nhỏ hơn, 4 góc tầng mái trang trí Rồng, đắp nổi hai con Nghê. Giữa cột trụ và cổng đắp nổi phù điêu hai võ sỹ, một người cầm giáo, một người cầm rìu chiến, mặc áo giáp, ngực trang trí hổ phù. Giữa tầng một có đề bức đại tự: “Cao sơn cảnh hành” (lên núi cao nhìn xa rộng). Còn có người dịch là “Cao sơn cảnh hạnh” (Đức lớn như núi cao). Mặt sau cổng đắp hai con hổ là hiện thân vật canh giữ thần.
- Đền Hạ: Tương truyền rằng nơi đây, mẹ Âu Cơ sinh ra bọc trăm trứng, sau nở thành 100 người con trai. Vì gắn liền với truyền thuyết nên đền Hạ người dân thường cầu nguyện những điều may mắn, tốt đẹp về đường con cái và gia đình, việc sinh nở vì người xưa quan niệm răng Mẫu là người bảo trợ cho mẹ tròn con vuông.
- Chùa Thiên Quang: Có ý nghĩa là ánh sáng từ trên trời ban xuống chiếu rọi khắp nơi. Theo truyền thuyết xưa cho răng nơi đây khi Âu Cơ hạ sinh bọc trăm trứng, tại vị trí của chùa có luồng ánh sáng chiếu thẳng từ trên trời xuống và chùa được xây dựng vào TK XVIII – XIX ở thời nhà Trần. Chùa thờ Phật theo phái Đại thừa. Hiện trong chùa còn giữ 32 pho tượng Phật bằng gỗ được sơn son thiếp vàng. Trước cửa có cây vạn tuế ba ngọn khoảng 800 tuổi, ba ngọn này tỏa ra 3 hướng tượng trưng cho Bắc – Trung – Nam. Chùa được xây theo lối kiến trúc nội công ngoại quốc gồm: tiền đường ( 5 gian), thiên hương (2 gian), tam bảo (3 gian), dãy hành lang và nhà Tổ ở phía sau. Mái chùa được lập ngói mũi,đầu đao cong, tòa được làm theo kiểu cột trụ, quá giang gối đầu vào cột xây, kèo suốt, bờ nóc tiền đường đắp lưỡng long chầu nguyệt.
- Đền Trung: Sau khi bước qua 159 bậc đá, các bạn sẽ đến đền Trung nằm lưng chừng núi, có tên chữ là “ Hùng Vương Tổ Miếu” hay “Miếu thờ tổ Vua Hùng” được xây dựng vào thời Trần TK XIII đến thời nhà Nguyễn TK XIX được xây dựng lại theo kiến trúc 3 gian, quay theo hướng Nam dài 7,2m rộng 3,7m mái hiên cao 1.8m không có cột kèo, cầu quá giang gối vào tường, bít đốc tưởng hậu, phía trước 3 cửa. Tháng 9/2009, được tu bổ, tôn tạo, kiến trúc đền kiểu chữ nhị gồm: tiền tế và hậu cung.
- Đền Thượng: Từ đền Trung đi khoảng 100 bậc sẽ đến đền Thượng, nằm ở vị trí cao nhất trên núi, có tên chứ là “ Kính Thiên Lĩnh Điện”( nghĩa là Điện thờ trời trên núi Nghĩa Lĩnh) còn có tên là “Cửu trùng tiên điện” (Điện giữa chín tầng mây). Trong Đền Thượng có bức đại tự đề “Nam Việt triệu tổ” (Tổ khai sáng nước Việt Nam). Theo như người xưa truyền lại, nơi đây Vua Hùng và các Lạc Hầu, Lạc Tướng làm lễ cúng tế trời – đất để cầu mong quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, nhân khang vật thịnh cũng là nơi vua Hùng thứ 6 cầu trời ban cho người tài ra giúp nước đánh giặc Ân. Sau khi Thánh Gióng đánh tan giặc và bay về trời, vua Hùng cho lập đền thờ vọng trên đỉnh núi, về sau, nhân dân đặt thêm bài vị vua Hùng vào thờ cúng.
- Cột đá thề: Nằm bên trái đền Thượng là cột đá thề. Qua năm tháng, cột đá bị vùi lấp và được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho phép phục dụng, để con cháu hiểu được lời thề của tổ tiên. Tương truyền do Thục Phán dựng lên khi được Vua Hùng thứ 18 truyền ngôi để thề nguyện bảo vệ non sông đất nước mà Hùng Vương trao lại và đời đời hương khói trông nom miếu vũ họ Vương, Thực Phán thề rằng: “Nước nam sẽ trường tồn, miếu thờ Hùng Vương sẽ còn mãi”sau đó người lên ngôi lấy hiệu là An Dương Vương đặt tên nước là Âu lạc và dời đô vào Cổ Loa. Cột đá cao 1,3m, rộng 0,3m, hình vuông. Đến năm 1968, Ty Văn hoá Vĩnh Phú tôn tạo lên bệ như hiện nay.
- Lăng Hùng Vương: Chính là nơi vua Hùng thứ 6 cởi áo vắt lên cành cây kim giao rồi hóa tại đó theo người xưa truyền với lời căn dặn rằng: "Khi ta mất hãy chôn ta trên đỉnh núi Cả để ta có thể trông coi bờ cõi cho con cháu", lăng mộ nằm ở phía đông Đền Thượng, có vị trí đầu đội sơn, chân đạp thủy, mặt quay theo hướng Đông Nam. Xưa là mộ đất, thời Tự Đức năm thứ 27 (1870) cho xây mộ dựng lăng. Thời Khải Định tháng 7 (1922) trùng tu lại, dưới thời nhà Nguyễn, lăng mộ được nhiều lần trùng tu, tôn tạo. Năm 2009, lăng mộ Hùng Vương được đại trùng tu và tôn tạo mở rộng không gian, cảnh quan thêm khang trang nhưng vẫn giữ nguyên kiến trúc ban đầu dựa vào sườn núi Hùng và trông ra ngã ba Bạch Hạc.
- Đền Giếng: Tên chữ là Ngọc Tỉnh Đi xuống khoảng 600 bậc theo hướng Đông Nam là đền Giếng thờ hai công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa cũng là nơi khi xưa hai cô công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa (con gái của Vua Hùng thứ 18) thường soi gương, vấn tóc khi cha đi kinh lý qua vùng này. Hai bà có công dạy dân trồng lúa nước và trị thuỷ nên được nhân dân lập đền thờ phụng muôn đời. Đền được xây dựng vào thời Nguyễn thế kỷ XVIII - XIX, theo hướng Đông Nam, kiến trúc kiểu chữ công, gồm nhà tiền bái (3 gian), hậu cung (3 gian), 1 chuôi vồ và 2 nhà oản (4 gian), có phương đình nối tiền bái với hậu cung. Đền nằm dưới chân núi. Trên mái đắp tứ linh: long, lân, quy, phụng.
Chính giữa tiền sảnh là 3 bức đại tự "Ẩm thủy tư nguyên" (Uống nước nhớ nguồn), "Nam quốc anh hoàng", "Sơn thủy kim ngọc" (ý nói núi sông quý báu như vàng ngọc). Tương truyền nơi này là câu chuyện tình giữa công chúa Tiên Dung và Chử Đồng Tử phản ánh khát vọng về tự do yêu đương, tự do hôn nhân. Còn Ngọc Hoa - Sơn Tinh phản ánh về công cuộc trị thủy cũng như để lại một phong tục văn hóa của người Việt: thách cưới.